Gà Hay Gặp Những Bệnh Gì? Những Bệnh Phổ Biến Nhất Ở Gà

Gà là loài vật nuôi rất phổ biến và được nuôi rộng rãi ở nước ta. Bên cạnh việc lựa chọn giống gà, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc và nuôi dưỡng gà, thì những vấn đề liên quan đến dịch bệnh, biện pháp phòng và trị bệnh cho gà cũng được người dân rất quan tâm và lo lắng. Vậy cụ thể gà hay gặp những bệnh gì? Hãy cùng tìm hiểu nhé!

Gà hay gặp những bệnh gì? Những bệnh phổ biến nhất

Ngộ độc hóa chất và nấm mốc aflatoxin

Theo big88, ngộ độc muối khiến gà uống nhiều nước, dẫn đến tình trạng giữ nước dưới da, què quặt và có thể sưng khớp. Ngộ độc hóa chất cũng khiến gà uống nhiều nước, đôi khi chết mà không có triệu chứng gì. Khi bị cắt, mùi hóa chất đầu tiên xuất hiện ở diều và bìu, sau đó theo thời gian sẽ lan vào thịt. Cả đàn gà ăn cùng một loại thức ăn sẽ biểu hiện các dấu hiệu bệnh tật, trong khi những con được cho ăn đầy đủ sẽ bị ngộ độc nhanh hơn.

Gà ăn ngô xám đầu đen, lạc xám, thức ăn viên xám… bị ngộ độc, nguy hiểm nhất là ngộ độc aflatoxin, gà ăn ít, lông nhăn nheo, sản lượng trứng giảm mạnh, trứng không đủ. Ngộ độc nặng có thể khiến gà chết nhanh. Gan sưng lên, có đốm máu, phân xám hoặc vàng, thận bị nhiễm trùng, sưng lên và chảy máu.
Quan sát đàn gà hàng ngày để phòng ngừa ngộ độc. Nếu thấy bất kỳ triệu chứng bất thường nào, cần kiểm tra nước uống và thức ăn ngay lập tức. Thay thế thức ăn mặn bằng ngô và cám; loại bỏ thức ăn xám hoặc thức ăn có chứa hóa chất. Nếu nước bẩn, có nhiều gà, nước giếng, nước ao, v.v., cần thay nước, lọc và khử trùng. Không để thức ăn và nước uống gần thuốc trừ sâu, thuốc diệt chuột, v.v.

Bệnh mổ cắn (canibalizm)

  • Sa tĩnh mạch: Gà mái đẻ quá nhiều trứng, khiến tử cung căng phồng, hoặc gà mái mới đẻ trứng, trứng quá lớn, khiến tử cung sa ra ngoài. Khi niêm mạc tử cung sa ra ngoài, màu hồng sẽ kích thích những con gà mái khác.
    Cắt và cắn cho đến khi máu chảy ra, màu đỏ thu hút nhiều con gà cho đến khi ruột chúng tràn ra ngoài và chúng chết.
  • Mổ cắn đứt lông: Gà nuôi nhốt không được vận động sẽ thiếu dinh dưỡng và khoáng chất, khiến gà tự nhổ lông. Sắc tố tích tụ gần các hạt lông bị nghiền nát, tạo thành màu đen sẫm.
  • Cắn ngón chân: Điều này thường xảy ra ở gà con, chủ yếu do đói, vì máng ăn cao, xa, không có máng ăn, hoặc gà con yếu hơn bị gà con lớn hơn đè bẹp. Khi không có thức ăn, gà con sẽ cắn chân mình hoặc chân của một con khác.
  • Vết bầm tím ở đầu: Nếu có vết thương trên mào hoặc yếm, điều đó có nghĩa là một con gà khác đã tè vào đó và cắn. Gà nuôi trong lồng thường cắn và gặm các thanh chắn, mào và đầu. Những con gà đã cắt lông và được nuôi trong lồng khác vẫn sẽ thò đầu ra mổ và cắn những con gà gần đó.

Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng rối loạn làm tổ: ăn viên thức ăn; Quá nhiều ngô trong chế độ ăn; Thiếu thức ăn và nước uống; Gà bị đói trong thời gian dài; Thiếu ổ và ổ đặt ở nơi quá sáng; Quá đông đúc; Dinh dưỡng và khoáng chất không hợp lý; Kích thích bởi các loài gây hại bên ngoài: rận, chấy, v.v. Khi đàn gà bị cô lập, đàn sẽ tiếp tục hành vi này mà không có cảnh báo thêm.

Khắc phục tình trạng ngạt thở bằng các bước: Dinh dưỡng tốt; Cung cấp đủ thức ăn để gà không bị đói trong thời gian dài (bao gồm cả thả rông và nhiều thức ăn); Cho gà nuôi nhốt và thả rông ăn nhiều rau; Cung cấp đủ thức ăn và nước uống; Không nhốt quá đông; Đảm bảo chuồng trại thông thoáng, tránh ánh sáng mạnh có thể kích thích gà; Khi nuôi đàn lớn, cần cắt bớt gai.

Bệnh do vi-rút

Sốt thương hàn (bệnh thương hàn)

  • Nguyên nhân : Vi khuẩn Salmonella gallinarum .
  • Triệu chứng : Gà mệt mỏi, lùn, bị tiêu chảy kèm theo phân màu trắng/xanh lá cây, giảm sản lượng trứng và tỷ lệ tử vong từ 20-50%.
  • Phòng ngừa : Sử dụng kháng sinh (Amoxicillin, Tetracycline), vệ sinh nơi bảo quản, đảm bảo thực phẩm không bị nhiễm bẩn.
  • Lưu ý : Bệnh này lây truyền qua trứng, thực phẩm hoặc nước uống bị nhiễm bệnh.

Bệnh tụ huyết trùng

  • Nguyên nhân : Vi khuẩn Pasteurella multocida .
  • Triệu chứng : sốt, phát ban tím, sưng khớp, khó thở, tử vong nhanh (50-80% trong vòng 24-48 giờ).
  • Phòng bệnh : tiêm phòng bệnh tụ huyết trùng, diệt trừ các loài gặm nhấm và côn trùng, sử dụng kháng sinh (Enrofloxacin, Oxytetracycline).
  • Lưu ý : Bệnh này lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp hoặc côn trùng.

CRD (bệnh hô hấp mãn tính)

  • Nguyên nhân : Vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum .
  • Triệu chứng : thở khò khè, sổ mũi, sưng mắt, giảm khả năng sinh sản, chậm phát triển.
  • Phòng bệnh : Dùng kháng sinh (Tylosin, Erythromycin), giữ chuồng khô ráo, thông thoáng và tiêm phòng bệnh mycoplasma.
  • Lưu ý : Bệnh này có thể tái phát trong điều kiện ẩm ướt.

Bệnh cầu trùng Avium

Đây là một căn bệnh phổ biến gây thiệt hại lớn cho đàn gia cầm vì khí hậu nóng ẩm của nước ta rất lý tưởng cho sự phát triển của cầu trùng. Khi gà nhà tiếp xúc với nhiệt độ khắc nghiệt, chúng dễ mắc bệnh này hơn.
Căn bệnh này do một loại ký sinh trùng đơn bào thuộc chi Eimeria gây ra, làm tổn thương thành tế bào của đường ruột.

Loại ký sinh trùng này thường sống và sinh sôi trong các tế bào ruột, gây chết tế bào. Hậu quả là viêm ruột, từ dạng viêm ruột nhẹ đến dạng nặng hơn, được gọi là viêm ruột xuất tiết, ảnh hưởng đến niêm mạc, lớp niêm mạc và các lớp cơ của ruột. Trong những trường hợp như vậy, phân thường lẫn máu.
Có tới 9 loài cầu trùng, chỉ một số loài quan trọng được ghi chú ở đây, chúng phân bố rộng rãi:

  • Bệnh cầu trùng manh tràng gà do Eimeria tenella gây ra ở niêm mạc manh tràng, gây viêm nhiễm nặng, chảy máu. Gà bệnh suy yếu nhanh, phân có máu và nhầy, thường xuất hiện ở gà 3-4 tuần tuổi. Gà bị xù lông, thiếu máu, tỷ lệ chết từ 20-30% trở lên. Niêm mạc manh tràng bị tổn thương nặng, xuất hiện đốm máu, có hạt và các mảnh vụn sữa đông dính máu.
  • Bệnh cầu trùng đường ruột cấp tính do Eimeria necatrix gây ra là một dạng cầu trùng đường ruột cực độc, gây bệnh nặng và thường xảy ra ở gà từ 6-8 tuổi. Khi mắc bệnh cầu trùng đường ruột, gà bỏ ăn, lông xù và tiêu chảy phân nước lẫn nhiều muội than và dịch hoại tử, không giống như bệnh cầu trùng xanh, mà có máu. Bệnh cầu trùng đường ruột ít gặp hơn, thời gian ủ bệnh dài hơn do gà thải ra ít noãn nang sống hơn. Ruột cứng, thường chảy máu, thành ruột đỏ sẫm, dễ rách, dịch máu chảy ra ngoài.
  • Bệnh cầu trùng mãn tính do cầu trùng ký sinh ở gà như Eimeria maxima, Eimeria mivati,… gây ra, quan trọng nhất là Eimeria acervulina, có thể do hai loài: Eimeria tenella (cầu trùng manh tràng) và Eimeria necatrix (cầu trùng đại tràng). Gà bệnh ăn kém, chậm lớn, chậm phát triển, tiêu chảy nặng, sụt cân, sản lượng trứng thấp, chất lượng trứng kém, viêm niêm mạc ruột và xuất huyết.

Biện pháp phòng ngừa và điều trị: Vệ sinh chuồng gà sạch sẽ, lau khô, không để chuồng bị ướt. Thỉnh thoảng rửa chuồng, phun formalin 2% hoặc cresyl 3% để khử trùng chuồng gà, dụng cụ và thiết bị chăn nuôi. Để chuồng trống một thời gian sau mỗi lứa gà. Vệ sinh toàn bộ bên trong và bên ngoài chuồng, phun thuốc khử trùng, đốt lớp lót chuồng bằng phân có rắc vôi bột, hoặc tốt hơn là đốt lớp lót chuồng cũ. Nên khử trùng kỹ sàn chuồng gà bằng dung dịch kiềm nóng 2% (nếu có thể) hoặc đốt cháy hoàn toàn. Nên nuôi cùng một loại gà với số lượng như nhau trong mỗi lồng. Mật độ gà không nên quá thấp. Cẩn thận diệt chuột và tách biệt người ra vào trang trại.

Điều trị bệnh bằng các loại thuốc sau: EsB3 Coccistop-2000, Rigecoccin, Furazolidone, Avicoc, Stenorol theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Đối với Furazolidone, Rigecoccin, trộn vào thức ăn với liều lượng 35-40 g/kg hoặc trộn với cơm nắm và cho gà ăn tại nhà cho đến khi gà hồi phục.

Bệnh tật do chế độ ăn uống không hợp lý

  • Nguyên nhân : Thiếu vitamin (A, D, E, B), khoáng chất (canxi, phốt pho).
  • Triệu chứng : Gà bị đau bụng, xương yếu, trứng vỏ mỏng, đẻ trứng, chân khập khiễng.
  • Phòng ngừa : Bổ sung vitamin và khoáng chất để đảm bảo chế độ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng.
  • Lưu ý : Điều này thường xảy ra ở những con gà bị nhốt trong thời gian dài hoặc được cho ăn thức ăn kém chất lượng.

Bệnh Newcastle

Thủy đậu, còn gọi là bệnh Tân Thành Gà, là một bệnh truyền nhiễm cấp tính. Bệnh do một loại virus thuộc nhóm Paramyxovirus (chỉ có 1 huyết thanh typ) gây ra, có thể sống trong chuồng từ 13-30 ngày.
Gà khỏe mạnh bị lây nhiễm từ gà bệnh qua đường hô hấp (hít thở không khí), đường tiêu hóa (ăn thức ăn và uống nước bị ô nhiễm) và qua thiết bị, người chăn nuôi, gia súc và gà bị nhiễm vi-rút.

Thời gian ủ bệnh từ 2 đến 14 ngày. Gà bệnh thường biểu hiện 1 hoặc 2 trong 3 triệu chứng hô hấp, tiêu hóa và thần kinh: mệt mỏi, chán ăn, ho, hắt hơi, sổ mũi, thở chậm và khó thở. Gà bị tiêu chảy, phân lỏng, có phấn, run cơ, khập khiễng mãn tính, cử động đầu và cổ không phối hợp, một số đầu bị ngửa ra sau (cổ vẹo), thân mình bị cong sang một bên, và khi hết dịch, những con gà sống sót vẫn có đầu tròn và đầu tròn. Tất cả các giống gà đều có thể bị nhiễm bệnh. Trong trường hợp nghiêm trọng, bệnh có thể giết chết tới 100% số gà.

Khi gà bệnh chết, sẽ thấy chảy máu từ mũi, khí quản và phổi, cùng với dịch nhầy đục, đôi khi lẫn máu. Dạ dày tuyến (mề) bị chảy máu từ các ống tiết, tạo thành các vệt. Trong niêm mạc ruột, có các mạch máu nổi lên từ rìa van hồi manh tràng. Cả trực tràng và hậu môn đều bị ẩm ướt bởi máu. Các cơ quan khác cũng bị chảy máu: tim, mỡ, mạc treo buồng trứng, buồng trứng, v.v. Ở gà bệnh, trứng chưa chín rơi vào khoang bụng, vỡ ra, gây viêm phúc mạc – gà có thể tử vong.

Phòng bệnh: Bệnh Newcastle hiện nay chưa thể chữa khỏi mà chỉ có biện pháp phòng bệnh, bao gồm vệ sinh vật nuôi và tiêm phòng đầy đủ mới có thể bảo vệ chống lại bệnh.

Cụ thể: Tách đàn gà và trại gà đúng quy trình; Thực hiện quy trình chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại và chăn nuôi đúng quy trình; Tiêm phòng vắc-xin cho gà giống kịp thời và đầy đủ theo lịch (xem bảng).

Bệnh thủy đậu

Đây là một bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng thường xảy ra ở gà ở mọi lứa tuổi, với triệu chứng điển hình là các sẩn viêm trên da và ở những vùng không có lông hoặc các sẩn giả mạc trên niêm mạc họng; mắt Bệnh do một loại vi-rút thuộc nhóm poxvirus gây ra, có thể tồn tại lâu dài trong các điều kiện khí hậu khác nhau, chịu được hạn hán, độ ẩm và ánh sáng ngay cả trong mùa lạnh. Muỗi, ruồi và các loại côn trùng khác là vật mang bệnh nguy hiểm nhất. Vi-rút có thể tồn tại trong cơ thể muỗi tới 56 ngày và lây truyền sang gà qua vết muỗi đốt. Khi chất thải của gà bệnh tiếp xúc với các tổn thương trên da của gà khỏe mạnh, gà bệnh sẽ gãi vùng quanh mắt. Vi-rút dễ dàng bị tiêu diệt bằng cách phun không khí nóng và ẩm; sự kết hợp của 3% formalin và 1/400 iốt ở nhiệt độ 200 C sẽ bất hoạt vi-rút và 5% phenol sẽ bất hoạt vi-rút chỉ trong 30 phút. Bệnh sởi có thời gian ủ bệnh từ 4-10 ngày, biểu hiện ở cả dạng khô và dạng ướt.

  • Thủy đậu khô (phát ban da): Xuất hiện các nốt sần trên da ở những vùng không có lông, đôi khi ở cả hậu môn, trên da mặt trong cánh, trên mào, môi, gần mắt, trên chân… Các nốt sần sưng lên và vỡ ra, có màu đỏ nhạt hoặc trắng, dần dần chuyển sang màu tím sẫm, các nốt sần khô tạo thành vảy, dễ bong ra. Gà bệnh vẫn ăn uống kém hơn bình thường, thường lắc đầu và liếm mỏ vì vảy. Nếu được điều trị, gà phát triển bình thường, có thể chết nhưng hiếm khi.
  • Thủy đậu thể ướt (thủy đậu phát triển ở phổi thường gọi là bạch hầu): Viêm bắt đầu ở miệng, họng, thanh quản và hầu của gà. Viêm lan dần thành mụn nước, niêm mạc hồng chuyển sang đỏ sẫm, cứng lại và cuối cùng hình thành các lớp giả mạc bám chặt vào niêm mạc khiến gà khó ăn và khó thở. Mặt gà sưng lên, sưng lên, sưng lên, mắt gà đỏ và sưng, dần dần mắt sưng lên do các chất này tích tụ trong hốc mắt. Mũi sưng lên, nước mũi đặc lại, mặt gà sưng lên. Ở thể này, gà không ăn uống được, gầy gò và có tỷ lệ tử vong cao. Có trường hợp cả hai loại thủy đậu cùng xuất hiện ở gà.

Các biện pháp điều trị và phòng ngừa:

Tiêm phòng vắc-xin đậu mùa cho gà con 7 hoặc 14 ngày tuổi, 112 ngày tuổi và gà con lớn hơn theo đúng lịch; Vệ sinh chuồng trại, trang trại, khu vực chăn nuôi sạch sẽ, khô ráo, thoáng mát; Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt; Diệt côn trùng, muỗi định kỳ.

Phân gà khô có thể xử lý được, nhưng khó làm ướt. Nếu bệnh bắt đầu xuất hiện, cần tiêm phòng ngay cho gà khỏe mạnh. Gà bệnh cần được bắt và xử lý riêng bằng cách cạo sạch vảy hàng ngày và bôi cồn iốt, glycerin, bạc nitrat… Nếu bị ướt, dùng bông gòn lau sạch màng giả và sử dụng thuốc sát trùng nhẹ, lugol hoặc glycerin. Nên cho uống kháng sinh liều thấp để phòng ngừa nhiễm trùng thứ phát, chẳng hạn như chloramphenicol, tetracycline và 5000 đơn vị vitamin A cho mỗi 0,5 lít nước.
Ở nhà, có thể bôi parafin lên da sau khi đã bóc vảy. Nên đốt vảy và bất cứ thứ gì rơi vào vảy để ngăn ngừa lây lan.

Viêm phế quản truyền nhiễm

Nguồn tin tham khảo của những người quan tâm đá gà cho biết, bệnh do virus corona gây ra (có tới 20 loại virus), chỉ có thể lây truyền sang gà khi chúng bị stress do thời tiết lạnh và suy dinh dưỡng. Bệnh lây truyền qua tiếp xúc giữa gà khỏe và gà bệnh hoặc qua
không khí giữa các kho, giữa các trang trại, thời gian ủ bệnh 18-36 giờ.

  • Triệu chứng: ở gà con: Miệng há ra để thở, ho, hắt hơi, thở khò khè, sổ mũi, chảy nước mắt, mắt sưng. Gà co cụm dưới đệm sưởi, lông bị rách, đất rụng, ăn ít, uống nhiều nước, sụt cân. 1 ngày bị bệnh có thể gây tổn thương vĩnh viễn cho hệ thống sinh sản, dẫn đến giảm sản lượng trứng và trứng kém chất lượng. Ở gà già mắc bệnh, ống dẫn trứng bị tổn thương tối thiểu, không có dịch mũi và trong một số trường hợp, không có dấu hiệu lâm sàng (bên ngoài). Ngoài các bệnh về đường hô hấp, gà mái đẻ bị giảm khả năng sinh sản đáng kể, giảm sản lượng trứng, khả năng nở kém, trứng vỏ mềm và các khuyết tật về phát triển. Gà lây lan bệnh rất nhanh, thường với tỷ lệ nhiễm trùng lên tới 100%, với tỷ lệ tử vong là 25% trở lên ở gà con dưới sáu tuần tuổi và không đáng kể ở gà trên sáu tuần tuổi.
  • Tổn thương: ở gà non: viêm khí quản và phế quản kèm theo đờm và dịch nhầy đục. Viêm phổi, thận sưng, nhợt nhạt. Ở gà già: khí quản hồng, sung huyết, có bọt, túi khí chứa đầy dịch nhầy. Gà đẻ trứng có thể bị vỡ túi noãn hoàng ở bụng.
  • Phòng và trị: Chưa có thuốc đặc hiệu, cần áp dụng các biện pháp kiểm soát dịch bệnh tốt, cách ly nghiêm ngặt và vệ sinh thú y mỗi khi thay đàn mới. Sử dụng kháng sinh trong trường hợp nhiễm khuẩn thứ phát.
    chẳng hạn như chloramphenicol, tetracycline, neotesol và vitamin dinh dưỡng. Phòng bệnh bằng vắc-xin (sống và bất hoạt) là hiệu quả nhất. Vắc-xin pha loãng được tiêm cho gà con hai lần, cách nhau 3-4 tuần.

Viêm thanh quản truyền nhiễm (ILT)

Đây là một bệnh truyền nhiễm cấp tính ở gà, đặc trưng bởi các triệu chứng bên ngoài và tổn thương đường hô hấp, do virus herpes gây ra. Virus có thể tồn tại trong khí quản của gà chết từ 22-24 giờ ở nhiệt độ 37°C và 60 ngày ở nhiệt độ 4-100°C, nhưng virus không thể tồn tại trong xác gà đang phân hủy.
Bệnh lây truyền qua đường hô hấp do virus trong không khí, thức ăn, nước uống bị ô nhiễm, phân và chất thải nhiễm bẩn từ gà bệnh. Nông dân, quần áo, thiết bị, xe cộ, chuột và gián có thể truyền bệnh. Bệnh không lây truyền qua trứng.

  • Triệu chứng: Thời gian ủ bệnh 4-12 ngày. Gà bệnh nặng, viêm kết mạc (mắt đỏ), khó thở, thở rất ngắn, gà nhanh chóng tìm không khí bằng cách vươn cổ về phía trước, há miệng thở, thở hổn hển, hắt hơi, ho. Khi lắc đầu, mỏ phun ra chất nhầy và máu. Gà kiệt sức, đầu tím tái, nằm xuống, đầu cúi thấp và nhanh chóng chết ngạt, dẫn đến mất đàn tới 60%, những con sống sót có thể bị mù. Gà có thể bị thể bệnh nặng hơn, chỉ bị viêm kết mạc, xuất huyết thanh hoặc chảy máu mà không có dấu hiệu thở.
  • Loét dạ dày: Ở gà bệnh nặng, miệng, mỏ, thực quản, họng và khí quản bị tắc nghẽn bởi chất nhầy lẫn máu. Đôi khi thanh quản và khí quản bị tắc nghẽn bởi dịch màu vàng xám và máu, gây khó thở.
    Có thể xảy ra khó thở và nghẹt thở, tắc nghẽn phổi và sưng phổi. Ở dạng nhẹ, chỉ có tình trạng nghẹt nhẹ và xuất huyết dưới da ở một phần ba trên của thanh quản và khí quản.
  • Phòng bệnh: tuân thủ quy định vệ sinh và sử dụng vắc-xin. Tiêm vắc-xin cho gà con sau 4 ngày tuổi, bằng mắt, lỗ hoặc miệng. Tốt nhất nên nuôi gà cùng độ tuổi “trong nhà và ngoài trời cùng nhau”. Trong trường hợp dịch bệnh xảy ra, hãy thu gom và tiêu hủy những con gà bị nhiễm bệnh nặng nhất.

Bệnh giun sán

Giun ký sinh sống trong ruột, ăn chất dinh dưỡng. Khi giun sinh sôi, nhiều chất dinh dưỡng bị mất đi, gà suy dinh dưỡng sẽ gầy yếu, có thể dẫn đến tắc ruột, tắc ống mật và thủng ruột do số lượng giun lớn, gây hại lớn cho vật nuôi.

Nếu gà của bạn có các dấu hiệu chậm lớn, lông xù, thiếu máu, lông nhợt nhạt, mặt và chân nhợt nhạt, chán ăn và giảm sản lượng trứng, chúng có thể đã bị nhiễm giun. Hãy lấy mẫu phân và gửi đến phòng khám thú y để kiểm tra ngay lập tức. Nếu là giun kim hoặc sán dây, bạn có thể tự nhìn thấy giun hoặc chấy lẫn trong phân. Nếu là giun, bạn nên đến phòng chẩn đoán để tìm trứng giun trong phân dưới kính hiển vi. Hoặc, một phương pháp nhanh chóng là chọn một con gà yếu và giết chết nó. Nếu bị nhiễm giun, bạn sẽ tìm thấy rất nhiều giun hoặc các loại giun khác trong ruột gà.

Phòng bệnh: Vệ sinh thức ăn, nước uống sạch, đặc biệt là lớp lót chuồng khô ráo, phun thuốc diệt muỗi, mối, kiến, ấu trùng sán dây bằng đồng sunfat, dipterex, asuntol.

Điều trị: Giun: Dùng Piperazine, uống 200-400 mg/kg thể trọng gà hoặc pha 0,2-0,4% vào thức ăn, pha 0,1-0,2% vào nước uống hoặc pha Menvenbet hoặc Tetramisole 40-60 g/tấn thức ăn với liều 60 g/tấn thức ăn, trộn vào thức ăn trong 1 tuần. Để tẩy giun, dùng Phenothiazine với liều 0,5 g/gà trong 1 ngày hoặc theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Tẩy giun: Một số thuốc có chứa Arecoline hoặc Bromosaxylamite (liều dùng theo hướng dẫn của nhà sản xuất). Có thể dùng phối hợp Butinorate.

Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh ở gà

  • Môi trường : nhà kho ẩm ướt, đông đúc, bẩn thỉu.
  • Thời tiết : Thời tiết nóng ẩm trong mùa mưa làm tăng số lượng vi khuẩn, ký sinh trùng và côn trùng mang mầm bệnh.
  • Quản lý : Tiêm phòng, tẩy giun hoặc cho ăn thức ăn bị mốc.
  • Gà thả rông : Do tiếp xúc với đất và nước bị ô nhiễm nên chúng dễ bị nhiễm ký sinh trùng (như bệnh về máu, bệnh cầu trùng).

Cách phòng bệnh tổng quát cho gà

  1. Tiêm vắc-xin định kỳ:
    • Gà con: Vắc-xin Newcastle, Gumboro, Marek (1-14 ngày tuổi).
    • Gà trưởng thành: Nhắc lại vắc-xin Newcastle, cúm gia cầm, tụ huyết trùng.
  2. Vệ sinh chuồng trại:
    • Thay chất độn chuồng thường xuyên, phun thuốc sát trùng (POVIDINE, IF-100).
    • Phát quang bụi rậm, diệt muỗi/chuột (dùng HANTOX, SAFE GUARD).
  3. Dinh dưỡng và sức đề kháng:
    • Bổ sung vitamin (A, C, K, B-complex), men vi sinh (MEN LACZYME), thuốc bổ gan (SORBITOL B12).
    • Đảm bảo thức ăn, nước uống sạch, không mốc.
  4. Quản lý đàn gà:
    • Cách ly gà mới mua hoặc gà bệnh.
    • Theo dõi dấu hiệu bất thường (phân, mào, hô hấp) để xử lý sớm.
  5. Kiểm soát côn trùng: Đặc biệt quan trọng với bệnh ký sinh trùng đường máu, dùng thuốc diệt muỗi (HAN-PEC, ALPHA 60F EC).

Trên đây là tổng hợp thông tin giải đáp gà hay gặp những bệnh gì?. Hi vọng bài viết này đã mang đến cho bạn những thông tin hữu ích!

Related Posts

Kỹ Thuật Đánh Đầu Trong Bóng Đá: Yếu Tố Quan Trọng Và Cách Thực Hiện

Kỹ thuật đánh đầu trong bóng đá là một phần thiết yếu trong kho vũ khí của mọi cầu thủ, giúp họ tận dụng cơ hội ghi…

Cách Chọn Kích Thước Tranh Treo Tường Phù Hợp, Chuẩn Phong Thuỷ

Trong trang trí nội thất, tranh treo tường là một trong những yếu tố quan trọng tạo điểm nhấn cho không gian sống. Tuy nhiên, không phải…

Serie A Là Gì? Khám Phá Lịch Sử Và Tầm Quan Trọng Trong Bóng Đá

Serie A là gì? Serie A từ lâu đã là biểu tượng của bóng đá Ý, cái nôi của những huyền thoại và là biểu tượng của…

Cấu Trúc Chiến Thuật 4-3-3: Vai Trò Và Cách Vận Hành Hiệu Quả

Chiến thuật 4-3-3 cung cấp hướng dẫn thực tế để sử dụng sơ đồ tấn công này. Bài viết của chúng tôi phân tích cấu trúc chiến…

LW Trong Bóng Đá Là Gì? Khám Phá Vai Trò Của LW Trên Sân

Bóng đá là một trong những môn thể thao phổ biến nhất, được hàng triệu người trên toàn thế giới yêu thích. Trong mỗi trận đấu, vị…

Khám Phá Sơ Đồ 4-3-3 Trong Bóng Đá Và Cách Vận Hành Hiệu Quả

Sơ đồ 4-3-3 trong bóng đá là một trong những hệ thống chiến thuật phổ biến nhất. Nhờ sự cân bằng giữa tấn công và phòng ngự,…